Để người dân chấp nhận xã hội hóa phương tiện tranh thai
(Ngày đăng:18.05.2017)
DSKG- Trong điều kiện ngân sách Nhà nước chi cho công tác KHHGĐ giảm dần hằng năm thì nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai của người dân vẫn tăng. Xã hội hóa được xác định là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường, đây là mục tiêu, là động lực, chính sách lâu dài cho sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ cần được tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên cho người dân biết và đồng thuận tự nguyện tham gia cùng chi trả.

Những năm trước đây, để tập trung cho việc giảm tốc độ gia tăng dân số nhanh, ngành dân số đã thực hiện chính sách "bao cấp" cho người dân khi sử dụng dịch vụ tránh thai. Ngân sách Nhà nước thực hiện việc chi trả cho cơ sở y tế công lập gồm cấp không thu tiền các phương tiện tránh thai (PTTT), hàng hóa và chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản (KHHGĐ/SKSS). Cơ chế này đã từng bước hình thành tâm lý "bao cấp" của người dân trong sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS. Thực tế, hiện nay phần lớn người dân có tiềm lực kinh tế gia đình, nên có khả năng chi trả toàn bộ hay một phần các loại dịch vụ xã hội, trong đó bao gồm cả dịch vụ PTTT và hàng hóa sức khỏe sinh sản.

 

Để bù đắp nguồn ngân sách thiếu hụt thì xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ là một giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính chiến lược. Phương thức này vừa giảm tải gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, vừa mở rộng và đẩy nhanh tiến độ cung cấp PTTT, dịch vụ và hàng hóa SKSS/KHHGĐ có chất lượng cao để thỏa mãn kịp thời yêu cầu của nhân dân đối với những hàng hóa, dịch vụ liên quan đến sức khỏe. Đây chính là cơ sở và động lực cho sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

 

Đề án "Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản tại khu vực thành thị và nông thôn phát triển" (gọi tắt là Đề án 818) được Tổng cục DS-KHHGĐ triển khai là một bước cụ thể hóa chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đề án đánh dấu một sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy cũng như trong phương thức tổ chức thực hiện cung cấp PTTT, hàng hóa và dịch vụ SKSS/KHHGĐ. Tuy nhiên, để tạo được sự đồng thuận và thay đổi hành vi cho đối tượng sử dụng chuyển từ nhận “miễn phí” sang “tự chi trả” thì đòi hỏi các hoạt động tuyên truyền, truyền thông cũng như việc phối hợp với các ngành, đoàn thể cần có những giải pháp và hoạt động cụ thể mang tính khả thi và hiệu quả cao.

Tập huấn triển khai Đề án Xã hội hóa PTTT cho viên chức dân số 7 huyện và 51 xã trọng điểm năm 2017.                    A. Thanh Dũng

Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra giải pháp "Huy động rộng rãi các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng tham gia công tác truyền thông, giáo dục, cung cấp dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản. Xây dựng và thực hiện lộ trình giảm dần mức độ bao cấp của Nhà nước". Để hoạt động truyền thông đúng các mục tiêu của Đề án, ngành dân số tỉnh nhà đã tổ chức các lớp tập huấn cho viên chức dân số 51 xã, phường, thị trấn của 7 huyện được đầu tư hoạt động năm 2017. Tổ chức Hội thảo định hướng công tác phối hợp trong hoạt động với Lãnh đạo các ngành thành viên cấp tỉnh, lãnh đạo UBND, Phòng Y tế, Trung tâm Y tế, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện, thị, thành phố. Qua đó đã xác định các nội dung chính trong tuyên truyền và truyền thông tại cơ sở, tập trung cung cấp thông tin về chủ trương và nội dung Đề án “Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai” đến lãnh đạo, các ngành, đoàn thể các cấp, đặc biệt viên chức dân số xã, phường và cộng tác viên dân số tổ chức phối hợp tuyên truyền nội dung xã hội hóa PTTT vào các buổi sinh hoạt của các ngành Phụ nữ, Nông dân, Thanh niên, Mặt trận.

 

Qua 2 tháng triển khai Đề án đã tổ chức 102 cuộc nói chuyện chuyên đề tại 51 xã trọng điểm năm 2017 với 2.142 lượt người tham dự, các xã cỏn lại tổ chức được 108 cuộc với trên 3.000 lượt người tham dự, chú yếu là lãnh đạo địa phương và các ngành, đoàn thể liên quan, đây là lực lượng nồng cốt cùng ngành dân số tuyên tryển cho nhiều đối tượng biết chủ trương của Nhà nước trong việc xã hội hóa các PTTT. Ngoài ra lực lượng cộng tác viên còn tập trung tuyên truyền tại hộ gia đình có đối tượng thực hiện KHHGĐ, nhằm từng bước thay đổi nhận thức và hành vi của các gia đình tại các khu vực thành thị, nông thôn phát triển có thói quen tự bỏ kinh phí mua các sản phẩm PTT và hàng hóa sức khỏe sinh sản theo nhu cầu, bỏ dần thói quen trông chờ vào sự tài trợ miễn phí của ngân sách nhà nước.

Triển khai Đề án Xã hội hóa PTTT cho Bản chỉ đạo công tác DS – KHHGĐ cấp tỉnh cùng các ngành liên quan tuyến huyện.           A. Thanh Dũng

Triển khai Đề án Xã hội hóa PTTT cho Ban chỉ đạo công tác DS – KHHGĐ cấp tỉnh cùng các ngành liên quan tuyến huyện.              A. Thanh Dũng

Dù bước đầu triển khai hoạt động xã hội hóa PTTTcó nhiều thuận lợi, nhưng hoạt động truyền thông xã hội hoá PTTT vẫn còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức về việc xã hội hóa PTTT ở một bộ phận nhân dân còn chưa đúng, cho rằng đây là một hoạt động mang tính thương mại hóa của ngành dân số, cộng tác viên làm việc này để tăng thêm thu nhập. Với nhóm đối tượng đồng thuận với chủ trương XHH khi đồng ý mua để sử dụng thì còn e dè khi chuyển sang sử dụng một thương hiệu PTTT mới, hoặc giá cả cùng chất lượng cũng chưa được đối tượng biết hết. Những tồn tại này ngành dân số đang từng bước khắc phục trong việc nâng cao kỹ năng tư vấn, truyền thông cho viên chức và cộng tác viên dân số, phối hợp ngành Y tế tổ chức nhiều buổi truyền thông giới thiệu chất lượng, thành phần, xuất xứ, công dụng của các sản phẩm KHHGĐ cho đối tượng, không chỉ tuyên truyền trực tiếp mà còn được tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở huyện và tỉnh.

 

Để thực hiện đạt hiệu quả cao Đề án 818 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện, thị, thành phố đến cơ sở cần tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới các hoạt động truyền thông trong đó đặc biệt quan tâm truyền thông để nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của người dân về công tác xã hội hóa PTTT trong lĩnh vực dân số. Tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền về nguồn lực, tài chính, huy động các nguồn lực trong cộng đồng xã hội cùng chung tay với ngành Y tế - Dân số tích cực tham gia hưởng ứng và tuyên truyền để công tác Dân số - KHHGĐ tỉnh nhà duy trì ổn định mức sinh thấp hợp lý, bền vững qua việc xã hội hóa các phương triện tránh thai từ sự đồng thuận của người dân./.                                                                    Bài, ãnh: Thanh Dũng

 

 Cổng Thông Tin Điện tử Công An tỉnh Kiên Giang
Sinh con lần đầu là gái, sinh con lần 2 bạn mong muốn có con trai hay con gái?
  Con trai

  Con gái

  Trai hay gái, con nào cũng như nhau


Đang Online: 3
Online trong ngày: 155
Online trong tháng: 5203
Tổng lượt truy cập: 204442