Tin nóng
Giải quyết vấn đề mất cân bằng tỉ số giới tính khi sinh, GS Nguyễn Đình Cử: Phải ủng hộ bình đẳng giới
(Ngày đăng:04.01.2013)
DSKG- Theo dự báo lạc quan nhất thì cũng có tới hàng triệu đàn ông Việt Nam sẽ phải chịu đựng cuộc sống độc thân, đơn côi suốt đời.
Ngành Dân số đang nỗ lực tuyên truyền cho người dân thay đổi nhận thức về KHHGĐ khuyến khích họ sử dụng các phương tiện tránh thai an toàn. Ảnh: P. V

Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015, tỉ số giới tính khi sinh (TSGTKS) ở nước ta được khống chế ở mức 113 và năm 2020 ở mức dưới 115/100. Xung quanh vấn đề này, PV Báo GĐ&XH đã có cuộc trò chuyện với GS.TS Nguyễn Đình Cử - nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân.
Chuyển đổi nhận thức
Giáo sư có nhận xét gì về tình trạng mất cân bằng TSGTKS tại Việt Nam, nhất là giữa các nhóm dân cư?

- Qua các cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam từ năm 1992 đến 2010 và các cuộc điều tra khác cho thấy một quy luật: Gia đình càng khá giả, nam, nữ có trình độ càng cao thì càng đẻ ít con. Nhưng đối với TSGTKS thì lại có xu hướng trái ngược: Ở các nhóm dân cư càng khá giả, có trình độ học vấn càng cao thì tỉ số này lại càng lớn.

Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, TSGTKS ở thành thị (110,6) cao hơn nông thôn (110,5), thành thị Đông Nam Bộ (111,8) cao hơn khu vực nông thôn Tây Nguyên (105,1) và tỉ số này ở nhóm dân số giàu nhất (112,9) cao hơn nhóm nghèo nhất (105,2). Tỉ số này tăng dần từ nhóm người mẹ có trình độ Tiểu học là 107,1 đến nhóm bà mẹ có trình độ Cao đẳng trở lên là 113,9.
Với TSGTKS vẫn còn cao như hiện nay, ông có cảnh báo gì cho Việt Nam trong tương lai?
- Những quốc gia và vùng lãnh thổ mất cân bằng TSGTKS vào bậc nhất thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã phải nhập khẩu “cô dâu”. Theo thống kê của Bộ Tư pháp nước ta, từ năm 1998 đến 31/12/2010 đã chấp nhận và làm thủ tục cho 294.280 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhiều nhất là với đàn ông ở các nước và vùng lãnh thổ nói trên. Đây cũng là điều cảnh báo cho Việt Nam trong tương lai.

“Nếu ở đâu cũng sinh con trai nhiều hơn con gái thì đương nhiên sẽ có một lượng lớn đàn ông không có vợ, không gia đình, không con. Đó là những kiểu sinh đẻ dẫn đến sự phát triển không có tương lai”, GS Nguyễn Đình Cử.

Kiên trì truyền thông, vận động
Theo Giáo sư, để giảm và đưa TSGTKS về mức tự nhiên chúng ta cần phải làm gì?

- Để giảm mức sinh, cần phải tuyên truyền thay đổi nhận thức, thái độ cho người dân, phải khuyến khích họ sử dụng các phương tiện tránh thai an toàn... Tuy nhiên, để TSGTKS trở lại trạng thái cân bằng tự nhiên lại cần hiểu biết và có thái độ ủng hộ “bình đẳng giới”. Theo quy luật tự nhiên, có những cặp vợ chồng sinh toàn gái, lại có cặp sinh toàn trai và có cặp sinh được cả gái, cả trai. Cần chấp nhận sự mất cân đối này trong khoảng 50% gia đình Việt Nam.
Với những giải pháp quyết liệt như truyền thông chuyển đổi hành vi, đẩy mạnh thái độ ủng hộ bình đẳng giới,… Giáo sư có nghĩ chúng ta sẽ đưa TSGTKS trở lại cân bằng vào năm 2025 như mong muốn?
- Theo quy luật của tạo hóa, cân đối giới tính khi sinh được thực hiện trong phạm vi cộng đồng lớn, chẳng hạn từ cấp tỉnh trở lên và tình trạng cân bằng hay không cũng chỉ có thể được phát hiện khi tổng hợp số liệu từ toàn bộ cộng đồng.

Rõ ràng, sự mất cân bằng GTKS khó nhận biết hơn, khó giám sát hơn tình trạng mức sinh cao. Mặt khác, lợi ích của KHHGĐ đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội thống nhất hơn và dễ thấy hơn, thế mà chúng ta đã phải kiên trì và đẩy mạnh KHHGĐ gần nửa thế kỷ mới đạt được mục tiêu mức sinh thay thế. Quản lý và vận động để đạt mục tiêu cân bằng GTKS khó khăn hơn nhưng Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2020 đã đề ra mục tiêu đưa TSGTKS cao hiện nay về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2025, tức là chỉ sau 15 năm vận động, can thiệp. Theo tôi, chúng ta phải nỗ lực rất nhiều mới đạt được mục tiêu này. Phải thật kiên trì truyền thông vận động mới thay đổi một quan niệm đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm. Cứ nhìn vào các nhóm dân cư kinh tế khá giả, học vấn cao ở nước ta và nhìn sang Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan thì thấy 15 năm không phải là nhiều cho sự thay đổi này. Để đạt được mục tiêu, chắc chắn chúng ta phải nỗ lực rất lớn, quyết tâm rất lớn và sáng tạo lớn.

- Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Theo một số nghiên cứu, thống kê, tỉ lệ các bà mẹ biết giới tính thai nhi từ trong bụng mẹ chiếm từ trên 70%, thậm chí ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội lên tới gần 100%. Điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của cả người dân lẫn kỹ thuật viên siêu âm của các cơ sở y tế. Theo kết quả nghiên cứu về “Giới, nam tính và sự ưa thích con trai ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội tại 2 tỉnh có TSGTKS cao đại diện cho hai vùng miền là Hưng Yên và Cần Thơ cho thấy, có tới 59,9% nam giới được hỏi không biết đến các quy định cấm lựa chọn giới tính thai nhi và 15,5% nghĩ là không có...

Hà Thư (thực hiện)
Theo Giadinhnet

 Cổng Thông Tin Điện tử Công An tỉnh Kiên Giang
Sinh con lần đầu là gái, sinh con lần 2 bạn mong muốn có con trai hay con gái?
  Con trai

  Con gái

  Trai hay gái, con nào cũng như nhau


Đang Online: 6
Online trong ngày: 205
Online trong tháng: 5689
Tổng lượt truy cập: 156796