Tin nóng
GS.TS Nguyễn Đình Cử nói về Sự cần thiết ra đời của Luật dân số: Cần có quy định điều chỉnh cụ thể
(Ngày đăng:23.09.2013)
DSKG- Nhóm nghiên cứu của Viện Dân số và Các vấn đề xã hội thuộc Trường ĐH Kinh tế Quốc dân vừa bảo vệ thành công đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện Pháp lệnh Dân số và khuyến nghị cho Luật Dân số” do GS.TS Nguyễn Đình Cử - nguyên Viện trưởng, giảng viên cao cấp làm Chủ nhiệm.
Việt Nam đã và đang giữ vững được mức sinh thay thế. Ảnh: D.Ngọc

Nhân dịp này, Giáo sư Nguyễn Đình Cử đã chia sẻ với PV Báo GĐ&XH những kết quả chủ yếu của đề tài này và những khuyến nghị cho việc xây dựng Luật Dân số.
Pháp lệnh Dân số có 4 điểm mạnh
Thưa Giáo sư, là người nghiên cứu kỹ Pháp lệnh Dân số, theo ông điểm mạnh nổi bật của văn bản này, góp phần vào sự thành công của công tác DS-KHHGĐ trong suốt thời gian qua là gì?
- Theo tôi, Pháp lệnh Dân số có bốn điểm mạnh, đó là: (1) Lần đầu tiên đặt vấn đề điều chỉnh toàn diện và hệ thống các hành vi dân số, công tác dân số bằng luật pháp; (2) Quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, đoàn thể xã hội, công dân đối với công tác dân số; (3) Mở đường cho việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật từ Trung ương đến các địa phương điều chỉnh hành vi dân số; (4) Nhạy bén điều chỉnh những hành vi dân số mới xuất hiện hoặc mới được quan tâm như: Mất cân bằng giới tính khi sinh, chất lượng dân số, già hóa dân số, đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân số, lồng ghép biến dân số vào các kế hoạch phát triển…
Tuy nhiên, lần đầu tiên xây dựng một văn bản pháp luật điều chỉnh một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề dân số ở nước ta nên Pháp lệnh này cũng còn những hạn chế nhất định như: Phạm vi điều chỉnh quá rộng, bao gồm cả quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số, các biện pháp của công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số nên việc điều chỉnh thiếu triệt để. Pháp lệnh Dân số mang nặng tính “luật ống, luật khung”.
Chẳng hạn, trong Pháp lệnh Dân số có 17 hành vi được quy định phải “phù hợp” và 7 hành vi quy định phải “hợp lý”, 1 hành vi quy định phải “cân đối” và một số khái niệm chưa được định nghĩa. Vì thế, các quy định mang tính chất chung chung, đường hướng, thể hiện rõ ràng “luật ống, luật khung”. Một tỷ lệ khá cao cán bộ quản lý các cấp không hiểu các khái niệm: Quy mô dân số phù hợp; Cơ cấu dân số hợp lý; Phân bố dân cư hợp lý… Tiếp theo là nhiều quy định không trực tiếp tác động đến hành vi dân số mà mang tính gián tiếp, “vòng qua” quá trình phát triển nên tính hiệu lực chưa cao.
Một hạn chế nữa là Pháp lệnh Dân số 2003 và Pháp lệnh sửa đổi năm 2008 chưa điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh và có khả năng phổ biến trong tương lai.
Trong 10 năm thi hành Pháp lệnh Dân số, theo ông đâu là kết quả ấn tượng nhất?
- Đánh giá chung về kết quả thực hiện Pháp lệnh Dân số, có 45,2% cán bộ quản lý được hỏi trả lời là “tốt” và “rất tốt”. Đối với tôi, ấn tượng nhất là 10 năm qua (2003 – 2012), trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn đạt và giữ vững được mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước và mức sinh vẫn tiếp tục giảm sâu dần xuống dưới mức thay thế. Kết quả cung cấp thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được người dân và cán bộ cung cấp dịch vụ đánh giá rất cao.
Kết quả thực hiện các quy định về “Chất lượng dân số”, tuy chủ yếu mới dừng ở các dự án, các hoạt động như: Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; Phòng chống tảo hôn và quan hệ hôn nhân cận huyết thống cho vị thành niên, thanh niên; Sàng lọc trước sinh và sơ sinh... nhưng cho thấy chúng ta đã bắt đầu khởi động một hướng mới trong lĩnh vực dân số và được nhân dân ủng hộ.
Sáu khuyến nghị với Ban soạn thảo
Theo đánh giá của Giáo sư, việc thi hành Pháp lệnh Dân số còn các hạn chế nào?

Giáo sư Nguyễn Đình Cử
“Đối với tôi, ấn tượng nhất là 10 năm qua (2003 – 2012), trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn đạt và giữ vững được mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước và mức sinh vẫn tiếp tục giảm sâu dần xuống dưới mức thay thế. Kết quả cung cấp thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được người dân và cán bộ cung cấp dịch vụ đánh giá rất cao”.

- Phải nói là còn nhiều khó khăn, hạn chế trong việc thi hành Pháp lệnh Dân số. Chẳng hạn, theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ phụ nữ mang thai biết trước giới tính thai nhi năm 2006 là 66,8% đã tăng lên 72,3% vào năm 2012.
Mặc dù Pháp lệnh Dân số cấm lựa chọn giới tính thai nhi nhưng “tỷ số giới tính khi sinh” vẫn tăng đều đặn. Tình trạng vi phạm các quy định xung quanh vấn đề “giới tính khi sinh” là khá phổ biến. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ văn hóa Nho giáo nên những quy định này chưa “đủ lực” để vượt qua rào cản văn hóa này.
Kết quả thực hiện các quy định về “phân bố dân số” chưa được tốt. Quy định “hạn chế tập trung đông dân cư vào một số đô thị lớn” của Pháp lệnh Dân số khó được thực hiện tại các đô thị lớn do nhiều chính sách không nhất quán. Đầu tư phát triển chủ yếu tập trung ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, miền Đông Nam bộ nên người di cư vẫn dồn về các địa phương này và ngày càng lớn. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chậm được triển khai và có những lo ngại về sự “trùng lặp” công việc giữa Bộ Công an và Bộ Tư pháp…
Giáo sư có khuyến nghị gì cho Ban soạn thảo Luật Dân số hiện nay?
- Báo cáo đánh giá của chúng tôi đã nêu 6 bài học kinh nghiệm từ việc xây dựng và thực hiện Pháp lệnh Dân số, từ đó cũng đề xuất 6 khuyến nghị đối với Ban soạn thảo Luật Dân số. Tuy nhiên, khuyến nghị quan trọng nhất mang tính định hướng cho việc xây dựng luật liên quan đến phạm vi điều chỉnh.
Như đã nói ở trên, Pháp lệnh Dân số điều chỉnh quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số, liệu Luật Dân số có nên tiếp tục phương hướng này? Quan điểm của chúng tôi là “không”, vì 10 năm qua, nhiều Luật mới liên quan đến dân số đã được ban hành như: Về phân bố dân số có Luật cư trú (2006); Cơ cấu dân số có Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới… Vì vậy, cần xác định nội dung hợp lý cho Luật Dân số.
Theo tôi, nên thay tiêu đề Luật Dân số là Luật Dân số - Kế hoạch hóa gia đình. Về nội dung điều chỉnh của Luật nên dựa theo từng giai đoạn của quá trình sinh sản để cần có quy định điều chỉnh cụ thể, thích hợp. Đó là các giai đoạn: Chuẩn bị mang thai; Giai đoạn mang thai; Giai đoạn không mang thai; Giai đoạn sinh con và giai đoạn sau sinh.
+ Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Hà Thư (thực hiện)

Theo Báo Gia đình & Xã hội

 

 Cổng Thông Tin Điện tử Công An tỉnh Kiên Giang
Sinh con lần đầu là gái, sinh con lần 2 bạn mong muốn có con trai hay con gái?
  Con trai

  Con gái

  Trai hay gái, con nào cũng như nhau


Đang Online: 7
Online trong ngày: 155
Online trong tháng: 5187
Tổng lượt truy cập: 156294