Mất cân bằng giới tính vấn đề hiện tại hệ lụy tương lai
(Ngày đăng:07.06.2018)
dskg- Hiện nay, mất cân bằng giới tính khi sinh đang trở thành một trong những vấn đề “nóng” và nan giải không chỉ đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) mà còn đối với tương lai của đất nước. Đó là nhận định của Bộ Y tế; Viện Chiến lược chính sách Y tế và Quỹ Hỗ trợ kỹ thuật EU tại Hội thảo Tham vấn về chương trình kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2018- 2020 cho 23 tỉn, thành phía nam, được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh từ ngày 25 – 26/5/2018.

Theo dự báo của Tổng cục DS-KHHGĐ, với tình hình mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh (MCBTSGTKS) như hiện nay, đến năm 2050 Việt Nam sẽ thiếu khoảng 2,3 - 4,3 triệu phụ nữ, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn có thể dẫn tới tan vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn, nhiều người trong số họ không có khả năng kết hôn vì thiếu phụ nữ. Trước tiên, tình trạng  MCBTSGTKS là sự kết hợp của nhiều nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau. Trong đó, có sự kết hợp nguyên nhân về các mặt văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế mức sống và trình độ y học hiện đại. Đặc biệt là có cả nguyên nhân do quá trình triển khai chính sách dân số - KHHGĐ ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Về nguyên nhân văn hóa xã hội, thì phong tục tập quán, văn hóa của người Việt chính là một trong số những yếu tố ảnh hưởng đến MCBTSGTKS.Việt Nam có nền văn hóa truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo.


Và một trong những giá trị của Nho giáo là mô hình gia đình truyền thống, việc nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ là những giá trị nền tảng. “Tâm lý thích con trai trở nên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Đã có những nghiên cứu phát hiện ra rằng, tại những vùng có tỷ lệ đỗ tiến sĩ trong thời kỳ phong kiến càng cao, có nghĩa là ảnh hưởng Nho giáo càng mạnh, nơi đó tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh nở trẻ em càng trở nên trầm trọng”. Việc mong muốn có con trai đang tồn tại ngay trong những gia đình giàu có, học vấn cao, ở cả thành thị chứ không phải trong những vùng quê. Thậm chí, MCBGTKS cao nhất trong nhóm các bà mẹ có học vấn cao nhất. Bởi cùng với tư tưởng mong con trai thì những người có học vấn cao cũng có kiến thức, điều kiện lựa sinh con trai “hiệu quả” hơn. Còn với nhóm nghèo và cận nghèo thì tỷ số giới tính khi sinh ở mức bình thường.

Chị Thanh Liêm (đứng) viên chức Trung tâm Dân số huyện Kiên Lương tuyên truyền về hậu quả mất câng bằn giới tính khi sinh cho phụ nữ tại ấp Lung Tha Na Thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương.   H. Thanh Dũng 

Nhiều đại biểu cho rằng, chính nhóm nguyên nhân cộng hưởng của những tiến bộ khoa học kỹ thuật về mặt y tế, giúp các cặp vợ chồng có thể lựa chọn được giới tính thai nhi. Khi y học càng phát triển, thì bằng nhiều cách người ta có thể tính toán được ngày để thụ thai, để tạo ra được con trai. Nhiều người lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh. Bên cạnh việc áp dụng thiết bị kỹ thuật cao, trình độ hiểu biết càng cao, việc can thiệp lựa chọn giới tính thai nhi càng cao. “Minh chứng bằng số liệu Tổng điều tra cho thấy, ở những nhóm dân số có mức thu nhập bình quân đầu người cao, mức sống trung bình khá trở lên, tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh càng trầm trọng. Nhiều người có điều kiện tài chính, có kiến thức nên họ có thể áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ lựa chọn giới tính thai nhi chuẩn hơn”.


Theo Kết quả từ điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 1/4/2014 được công bố tại Hội thảo thì tỉnh Kiên Giang nằm trong nhóm 28 tỉnh có tỷ số MCBGTKS cao nhất nước và nằm trong nhóm 13 tỉnh có tỷ số MCBGTKS cao trong khu vực miền Đông nam bộ, với tỷ số  >= 111 bé trai sinh ra còn sống/100 bé gái sinh ra còn sống. (tỷ số trung bình 103 - 107). Việc Kiên Giang có TSMCBGTKS cao cũng giống như các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửa Long như: Long An; Cần Thơ; Trà Vinh; Bạc Liêu; Tiền Giang; Đồng Tháp; Bến Tre về phương diện địa lý và phong tục tập quán. Xuất phát từ tư tưởng muốn có con trai đề “nối dõi tông đường”; “Trọng nam hơn nữ”; “Xuất giá, tòng phu” và con trai là nguồn nhân lực chính trong gia đình tại các địa phương có biển, đảo, vùng ven biển, vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống.


Mặc khác tỳ số MCBGTKS cao một phần từ  các vùng nông thôn do đa phần người dân làm nông nghiệp; tại các huyện đảo, ven biển người dân làm các nghề về kinh tế biển theo hình thức tư nhân, vì thế sẽ không có lương hưu khi về già, cũng như thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, là những nguyên nhân dẫn đến việc mong nuốn có con trai bằng mọi giá.

Một buổi nói chuyện chuyên đề  về mât cân bằng giới tính khi sinh cho phụ nữ tại xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương


Đồng tình với phát biểu của các tỉnh Cà Mau; Bạc Liêu; An Giang; Hậu Giang về phía tỉnh Kiên Giang cho rằng: Sự nhận thức của đại đa số gia đình trong việc KHHGĐ đã được nhân lên rõ rệt từ việc số con trung bình của các tỉnh trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đã đạt mức sinh thay thế là 2 con/ trên 1 phụ nữ trong tuổi sanh,đẻ. Nhưng trong các giải pháp đề ra trong giai đoạn 2011- 2017 khi thực hiện Đề án “Can thiệp,giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” chúng ta đã không làm tốt những chính sách, khuyến khích, hỗ trợ cho gia đình sinh con một bề gái nhất là những gia đình có con gái học tập tốt. Làm tốt việc này, sẽ tạo động lực và điển hình góp phần làm giảm đi sự mong muốn có con trai ở những gia đình trẻ mới thành hôn, hướng cộng đồng tới việc thực hiện tốt khẩu hiệu “Con trai, hay con gái đều là niềm vui, hạnh phúc của mỗi gia đình”  hoặc “ Dù gái hay trai chỉ 2 là đủ” trong giai đoạn thực hiện Chiến lược Dân số hiện nay.


Trước những thách thức và hệ lụy của việc MCBGTKS đã được báo trước, các đại biểu đã thống nhất phải giải quyết vấn đề này một cách kiên trì, thường xuyên và hiệu quả. Trên cơ sở các Để án đã được lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Y tế phê duyệt tại các tỉnh, ngành dân số phải có những giải pháp hữu hiệu,  tập trung việc nâng cao nhận thức của cộng đồng từ hoạt động truyền thông, tham mưu những chính sách hỗ trợ trong cuộc sống, học tập, tạo việc làm cho trẻ em gái, nâng cao vị thế của phụ nữ trong cuộc sống, xóa bỏ định kiến về nữ giới, sẽ là những giải pháp hữu hiệu kéo giảm TSMCBGTKS theo mục tiêu để ra từ nay đến năm 2020./.                                          Bài ảnh: Thanh Dũng

 Cổng Thông Tin Điện tử Công An tỉnh Kiên Giang
Sinh con lần đầu là gái, sinh con lần 2 bạn mong muốn có con trai hay con gái?
  Con trai

  Con gái

  Trai hay gái, con nào cũng như nhau


Đang Online: 6
Online trong ngày: 222
Online trong tháng: 8360
Tổng lượt truy cập: 311619