Một số lĩnh vực chủ yếu liên quan đến chất lượng dân số
(Ngày đăng:16.07.2018)
DSKG- Những năm qua, thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân số, công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển. Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, năm 2009 tỉnh Kiên Giang chính thức bước vào thời kỳ mức sinh thay thế với số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ là 1,86 con và duy trì cho đến nay. Quy mô gia đình ít con ngày càng được chấp nhận rộng rãi, chất lượng dân số được cải thiện nhiều mặt, thu nhập bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng; tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em và tử vong trẻ sơ sinh ngày càng giảm.

Trong thời gian tới, bên cạnh mục tiêu duy trì mức sinh thay thế, kéo dài thời kỳ dân số vàng thì mục tiêu dài hạn mà chương trình dân số tỉnh ta cần hướng đến được xác định trong Chương trình hành động số 34-Ctr/TU ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tỉnh Ủy Kiên Giang thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, đó là: “…Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt: quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững phù hợp địa phương”. Như vậy, vấn đề chất lượng dân số sẽ là mối quan tâm hàng đầu trong việc triển khai các chương trình dự án có liên quan.
Đặt vấn đề chất lượng dân số trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, nên ở bài viết này xin được nêu lên một số lĩnh vực chủ yếu của chất lượng dân số mà chúng ta cần quan tâm trong thời gian tới.
Tạo việc làm cho mọi người.
Kiên Giang đang bước vào thời kỳ dân số vàng, số người trong độ tuổi lao động gấp đôi số người phụ thuộc (Năm 2017, dân số trong độ tuổi lao động của Kiên Giang chiến gần 70%) . Đây vừa là thời cơ đồng thời cũng là thách thức trong việc sử dụng nguồn nhân lực cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Nếu có cơ chế chính sách hợp lý tận dụng tối đa thời kỳ dân số vàng, điều này sẽ giúp tạo ra động lực lớn thúc đẩy kinh tế phát triển. Song bên cạnh đó, trong quá trình phát triển cũng nảy sinh hàng loạt vấn đề bức xúc cần giải quyết, như: thiếu đồng bộ của cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, chất lượng nguồn lao động chưa cao, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn và tình trạng thất nghiệp xảy ra ở các khu đô thị…Điều đó đòi hỏi tỉnh ta phải có nhiều cơ chế chính sách cụ thể để giải quyết những vấn đề nêu trên, trong đó có vấn đề tạo việc làm cho người lao động nghèo ở khu vực nông thôn.
Xóa bỏ tình trạng đói nghèo.
Năm 2017 vừa qua, tỉnh Kiên Giang đã thực hiện khá tốt công tác xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo từ 8,32% xuống còn 6,20% (giảm 2,12% so với năm 2016), đặc biệt hộ nghèo người dân tộc thiểu số còn 10,59 % (giảm 3,30% so với năm 2016). Các chỉ tiêu giải quyết việc làm, đào tạo nghề, an sinh xã hội đã được các ngành, các cấp và chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Bên cạnh nhiều chủ trương, chính sách của tỉnh tạo điều kiện nhằm xóa bỏ dần tình trạng nghèo đói thì nhiều phong trào giúp nhau xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng đang thực sự là phong trào quần chúng có tác động sâu sắc làm chuyển biến bộ mặt nhiều vùng nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay số dân nghèo ở khu vực nông thôn vẫn chiếm đa số, điều này đang là một thách thức không nhỏ trong quá trình phát triển.

Dân số trong độ tuổi lao động của Kiên Giang chiến gần 70% dân số đang là động lực lớn cho phát triển kinh tế-xã hội.

Tạo điều kiện để người vô sinh có điều kiện sinh con.
Một thống kê mới nhất từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết Việt Nam đang là một trong những quốc gia tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có tỷ lệ sinh thấp nhưng tỷ lệ vô sinh thì lại cao. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng dự báo: vô sinh và hiếm muộn sẽ là vấn đề nguy hiểm thứ 3, chỉ đứng sau ung thư và bệnh tim mạch ở thế kỷ 21 và căn bệnh này dần trở nên phổ biến ở các nước Châu Á trong đó có Việt Nam.
Hiện tại, vô sinh hiếm muộn còn đang dần trẻ hóa và diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, áp lực lên quá trình hỗ trợ và điều trị. Một cuộc khảo sát nghiên cứu năm 2015 trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49) ở 8 tỉnh thành đại diện cho 8 vùng sinh thái ở nước ta do Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội tiến hành. Kết quả khảo sát rút ra kết luận: Tình trạng vô sinh hiếm muộn tại Việt Nam ngày càng trẻ hóa. Hiện ước tính có hơn 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh; 50% cặp vợ chồng vô sinh ở độ tuổi dưới 30; 7,7% là tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Theo số liệu từ Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản-Bệnh viện Phụ sản Trung ương, nếu như 10 năm trước trung tâm chỉ tiếp nhận 2-3 cặp vợ chồng mỗi ngày có các vấn đề về vô sinh, hiếm muộn thì năm 2015 con số này đã tăng lên gấp 20 lần.
Trong điều kiện như vậy, rất cần một cơ chế thoáng giúp đỡ các cặp vợ chồng có thể sinh con theo ý muốn, bao gồm các biện pháp giáo dục, tư vấn và tổ chức các dịch vụ điều trị vô sinh.
Tăng cường đầu tư nguồn lực và tìm các giải pháp can thiệp để giải quyết các vấn đề có liên quan đến sinh sản cho các nhóm người đặc biệt nhằm đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe, an sinh và phúc lợi xã hội cho mọi người, mọi gia đình. Những nhóm người ít học sống ở những vùng sâu, vùng xa cần được ưu tiên đặc biệt để được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Hạn chế gia tăng có thai ở trẻ vị thành niên.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, sự tràn ngập thông tin có tính kích thích tình dục và lối sống thực dụng đã tác động làm một bộ phận trẻ em vị thành niên thực hiện các hành vi tình dục ở độ tuổi quá sớm khi chưa được trang bị kiến thức về tình dục an toàn, dẫn đến có thai, đẻ con hoặc nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên. Để giảm thiểu tình trạng nạo phá thai ở trẻ vị thành niên cần có sự hợp tác của cơ quan giáo dục và các cơ quan chăm sóc sức khỏe tổ chức giáo dục giới tính và cung cấp các chỉ dẫn cần thiết để bảo vệ trẻ vị thành niên không bị quấy rối tình dục hoặc nếu thực hiện hành vi tình dục thì tiến hành tình dục an toàn.
Tư vấn và dịch vụ cho những phụ nữ mang thai ở độ tuổi cao.
Kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống được nâng lên đã kéo theo một thực tế không lấy gì làm vui, đó là tỷ lệ các cặp vợ chồng kết hôn muộn gia tăng. Theo quan điểm của y học, phụ nữ có thai ở độ tuổi cao (trên 35 tuổi) có xác suất đẻ con có dị tật cao hơn bình thường. Chính vì vậy cần phải phổ biến việc “sinh con ở độ tuổi thích hợp” cho các cộng đồng dân cư. Các dịch vụ tư vấn và dịch vụ khám liên quan đến chăm sóc thai nhi cần phải đặc biệt chú ý đến nhóm phụ nữ lớn tuổi khi họ mang thai.
Giảm bớt tỷ lệ trẻ mắc các dị tật bẩm sinh.
Ở Việt Nam dị tật bẩm sinh vẫn sẽ còn đe dọa cuộc sống của các thế hệ kế tiếp. Các số liệu khảo sát ở một số địa phương cho thấy dị tật bẩm sinh còn là nguyên nhân gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Để loại bỏ hiểm họa bị dị tật bẩm sinh cho các thế hệ tương lai và giảm bớt gánh nặng chi phí xã hội, công tác chăm sóc sức khỏe cần quan tâm hơn đến sức khỏe di truyền, trong đó có việc quan tâm học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển. Cần làm tốt các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán lâm sàng về di truyền, kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, khám nghiệm trước trong và sau thời kỳ mang thai, xây dựng một hệ thống dịch vụ đủ mạnh để giảm thiểu, tiến tới xóa bỏ tình trạng dị tật bẩm sinh ở trẻ em./.

Bài và ảnh: Tuấn Nghĩa

 Cổng Thông Tin Điện tử Công An tỉnh Kiên Giang
Sinh con lần đầu là gái, sinh con lần 2 bạn mong muốn có con trai hay con gái?
  Con trai

  Con gái

  Trai hay gái, con nào cũng như nhau


Đang Online: 6
Online trong ngày: 306
Online trong tháng: 6228
Tổng lượt truy cập: 330951